Wednesday, May 6, 2009

Khắc khoải một đời - Tản mạn với dòng nhạc Diệu Hương

Wednesday, April 12, 2006

Trong dòng nhạc hiện đại Việt Nam hiện nay, có bao giờ bạn bắt gặp một dòng chảy khác không? Một dòng chảy thật đằm thắm dịu dàng, nhưng từng lúc, từng lúc, xói mòn tâm thức ta, để rồi một ngày nào đó ta chợt nhận ra mình trong một nỗi đau rất thật nhưng không biết tỏ cùng ai.

Ðó là dòng nhạc Diệu Hương.



“Tôi Muốn Hỏi Tại Sao?”

Sinh ra nơi xứ Huế, tuổi thơ của Diệu Hương trôi qua êm đềm trong một gia đình đầm ấm, nhưng cô luôn ray rức về cuộc sống. Biến cố năm 1975 khiến gia đình trôi dạt vào Sài Gòn.


Những ước mơ gãy vụn!

Tương lai vô định!

... và chỉ còn lại những hạnh phúc nhỏ nhoi.


“Tôi muốn hỏi tại sao,

Có những chiều, những chiều mưa xuống nhiều.

Mà sao em không đứng nhìn mưa,

Ðể nghe mảnh tim xao xuyến bất ngờ.”


Bài hát đầu tay – “Tôi Muốn Hỏi Tại Sao?” - ra đời vào một đêm Tháng Hai năm 1977. Cô viết để trải lòng mình. Giai điệu tự đến, lời nhạc tự nhiên như những lời tự bạch: Hãy nhận lấy và nâng niu những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi ngay trong tầm tay của mình để thấy đời sống vẫn đáng để ta trân trọng.


“Tôi muốn hỏi tại sao,

Có những dòng, những dòng đời êm ấm lạ.

Mà em không giữ hết trong vòng tay,

Còn đi xa tìm đâu ra bao tháng năm nay.”




“Nỗi Ðau Hạnh Phúc”

Diệu Hương rất hay buồn, và không biết mình muốn gì. Tâm hồn cô lãng mạn và yếu đuối. Từng đêm, từng đêm, cô suy ngẫm về cuộc đời, và không biết mình sẽ đi về đâu?


Hạnh phúc sau này mình nhận được sẽ là gì?

Tình yêu nào sẽ đến với mình?

Tất cả đều mơ hồ như sương khói.


... và cô lại chơi vơi giữa dòng đời.


“Hạnh phúc rồi tan biến như cơn mưa qua đây một lần.

Vội vã rồi tha thiết khi một ngày vừa thấy tình gần.

Tình đến rồi đâu đó, nhưng riêng tôi không như mọi người.

Chợt thấy lòng hoang vắng như một đời sầu đắm chơi vơi.”



Ðôi khi mơ ước trở thành hiện thực thì cô lại không dám nắm lấy. Cô lo sợ hạnh phúc quá mong manh, sợ rồi một ngày nào đó nó sẽ vỡ tan như những bọt nước trong cơn mưa phùn. Thế rồi cô tự tạo cho mình một ốc đảo, thu mình thật nhỏ để nhìn hạnh phúc thật mong manh vây quanh.

Chỉ nhìn thôi... và từ đó, những nốt nhạc lại được tái sinh.



Biệt ly

Cái chết bất chợt của người thân mang lại cho ta một nỗi đau khôn cùng. Từ trong sâu thẳm tâm hồn, Diệu Hương ôm chặt nỗi đau mất cha, người vừa là đấng sinh thành, vừa là bạn tri kỷ.

Nỗi đau thắt chặt trái tim cô, và cô biết mẹ mình còn đau hơn thế.


“Mình là mình mình ơi! Mình đi là đi đi mãi quên lời.
Lời xưa mà ta ước hẹn một đời là một đời sắt son.

Cây xanh là xanh lá vẫn tươi màu,

Riêng em là em héo tàn nhạt nhòa là nhòa tình xuân.

Ðôi chim gãy cánh giữa đường,

Từ nay là em thôi hết được gọi mình là mình mình ơi”

(“Mình Ơi!”)



Giai điệu mang một chút hơi “cò lả”, một chút nét “dân ca” chuyên chở một cảm xúc nhẹ nhàng nhưng là một cảm xúc thật xót xa.

Cuộc đời thật quá phù du!



“Vì Ðó Là Em”

Một người bạn tôi cho rằng bài hát này là một “Tuyên ngôn về tình yêu.” Vì khi yêu ai là ta yêu sự hiện hữu của người đó, yêu vì bản chất của người đó chứ đâu cần biết “Em là ai?” Em xuất thân từ đâu? Hay quá khứ em là gì? Diệu Hương muốn tình yêu là như thế. Cô lý tưởng hóa, thần thánh hóa tình yêu, và cho rằng tình yêu chỉ cần như thế.


“Không cần biết em là ai.

Không cần biết em từ đâu.

Không cần biết em ngày sau.

Ta yêu em băng mây ngàn biển rộng.

Ta yêu em qua đông tàn ngày tận.

Yêu em như yêu vùng trời mênh mông.



Không cần biết đêm dài sâu.

Không cần biết bao gầy hao.

Ta ngồi đếm tên thời gian.

Nghe thương yêu dâng cao như ngọn đồi.

Như xa xôi nay quay về gần gũi.

Yêu em khi chỉ biết đó là em.”



Hạnh phúc thật đơn giản.

Thế nhưng đời người mãi đuổi bắt cái bóng của chính mình!



“Khắc Khoải”

Diệu Hương tâm sự:

“Khi viết được một ca khúc, Diệu Hương rất hạnh phúc. Hạnh phúc vì mình thoát ra được cái ray rứt thường ngày. Và cứ thế, những hạnh phúc trong âm nhạc cứ trám vào những khoảng trống vắng mà cuộc sống mệt mỏi mang lại. Viết nhạc là một sự giải thoát cho Diệu Hương.”
“...Diệu Hương sợ bóng tối. Khi tinh thần mình đi xuống thì bóng tối là một vực thẳm, nó đưa Diệu Hương đến tận cùng của sự sợ hãi. Trong bóng tối lúc đó Diệu Hương rất bi quan. Nếu như sáng dậy, mình được nhìn thấy mặt trời, được nghe tiếng nói cười thì cuộc sống trở nên gần gũi. Nhưng trong bóng tối, trong đêm hiu quạnh, Diệu Hương cảm thấy như mình bị nhận chìm xuống tận đáy vực sâu. Sợ lắm mà không thoát ra khỏi nỗi buồn đó được, cô đơn, tuyệt vọng mà không thể chia sẻ cùng ai. Chính nỗi cô đơn dày vò mình làm mình thật xơ xác và mệt mỏi.”
Ðêm trở nên dài vô tận.

Và trong một đêm như thế, Diệu Hương viết nên “Khắc Khoải”.


“Tôi ngồi đây sợ bóng tối, bóng tối qua đêm dài.

Ðêm quạnh hiu, ôi xơ xác, linh hồn tôi khắc khoải.

Mong từng giây, từng phút đến hết những đau thương này.

Chờ ánh sáng trong ban ngày, như một lần niềm hy vọng hết đắng cay”



Dòng nhạc Diệu Hương mang một cảm xúc chân thành, một cảm xúc rất thật. Cô viết bằng những khắc khoải trong cuộc sống.

Này bạn, hãy ngồi xuống thật tĩnh lặng để nghe những ca khúc của Diệu Hương, rồi ta sẽ cảm được rằng cái khắc khoải đó không chỉ của riêng cô, mà ở đâu đó nó phảng phất tâm trạng của riêng ta, nó mang nỗi đau hay niềm hạnh phúc mà ta không thể nói thành lời.

Có ai không khắc khoải một thời?

Riêng Diệu Hương sẽ khắc khoải một đời!

Phi Khanh, người có “duyên” với vũ trường

Thursday, December 29, 2005

Nếu có ai hỏi tôi rằng: “Ðêm cuối tuần ở Little Saigon có gì vui?” thì tôi sẽ trả lời ngay rằng: “Hãy đến Vũ Trường Majestic.”

Tôi cũng không ngờ rằng Majestic đã hoạt động sang năm thứ 16, và cô ca sĩ nhỏ nhắn, khả ái Phi Khanh lại là chủ nhân và là người điều hành Majestic bằng chừng ấy năm.

Trong một buổi chiều cuối năm, chúng tôi có dịp gặp nhau tại Blue Club (đây cũng là cơ sở thứ hai của Phi Khanh) và hiểu ra nhiều điều về cô gái có cái “duyên” với vũ trường.

Năm 1975, cả gia đình Phi Khanh di tản qua Mỹ. Ở Kansas, gia đình thành lập ban nhạc mang tên bố, ban nhạc Nguyễn Lâm, chỉ sinh hoạt trong phạm vi bạn bè, nhà thờ. Bố Nguyễn Lâm phụ trách chính, Phi Khanh hòa âm, phối khí và là giọng hát chính, Quốc Thái đàn bass và hát, Minh Hạnh chơi keyboard và hát, Ðức Anh đánh trống và người em họ Vũ Hùng chơi giutar. Ban nhạc được hưởng ứng thật nồng nhiệt, nhưng Kansas không phải là nơi để phát triển nghệ thuật của cộng đồng người Việt nên năm 1978, gia đình chuyển về California.

Ban nhạc “Mây Bốn Phương” được thành lập và nhanh chóng tạo được tiếng vang. Nếu ai đã từng nghe Phi Khanh hát thì không thể không yêu thích cô. Giọng hát cô thật lạ, nó mang một âm hưởng trẻ con, nũng nịu mà thanh thoát. Và hình như thời gian đã không lấy mất đi âm hưởng đó, có khác chăng càng ngày giọng hát của cô càng đằm thắm, dịu dàng hơn. Ðó là một giọng hát riêng biệt mà ta có thể nhận ra ngay trong muôn ngàn giọng hát khác.

Và nếu ai đã từng xem cô biểu diễn thì không thể không cảm nhận khi cô ngồi xuống với cây đàn piano thì cả không gian quanh cô như bừng sáng. Con người và tâm hồn cô hòa quyện với cây đàn, những ngón tay lướt nhẹ trên phím đàn như mơn trớn, vuốt ve giọng hát.

Giọng hát được thăng hoa.

Cô tâm sự:

“Phi Khanh học đàn lúc 4 tuổi, cái tuổi chỉ ham chơi thôi nhưng bố bắt học thì phải học. Học vì cây roi bố để cạnh đó, dù chưa bị đánh lần nào nhưng Phi Khanh cũng sợ lắm. Ðến năm 9 tuổi, khi biết đàn rồi thì mới yêu thích. Năm đó Phi Khanh thi vào trường Quốc Gia Âm Nhạc, học đến năm 1975 thì cả gia đình qua Mỹ.

Thời gian đầu sống ở Kansas, đâu có tiền để đi học tiếp, nhưng may mắn là có một bà giáo sư nhạc người Mỹ thích Phi Khanh nên dạy “free” piano và voice cho Phi Khanh. Qua California, Phi Khanh mới hoàn tất chương trình đại học về music và voice đồng thời lấy luôn bằng về business.”

Cô cười và nói tiếp: “Cũng bởi Phi Khanh có quá nhiều “nghệ sĩ tính” nên làm business dở lắm.”

Do “nghệ sĩ tính” nên năm 1990 Phi Khanh mở Majestic.

Cô chăm sóc Majestic như một “baby” của mình. Tuyển ban nhạc, mời ca sĩ cộng tác, lo luôn cả phần âm thanh, ánh sáng cho hoàn hảo. Cô muốn mang đến cho khách một bầu không khí âm nhạc thực sự, còn các việc khác cô nhờ chồng mình là anh Nguyễn Thành Quốc lo giúp.

Hình như đây là một trong những cặp vợ chồng bổ sung cho nhau thật trọn vẹn.

“Nếu không có anh Quốc, một mình Phi Khanh làm thì chắc Majestic sập tiệm rồi” cô nói với một niềm hãnh diện nhưng tôi cũng hiểu nếu Majestic không có Phi Khanh thì chắc cũng...

Nói về sự thành công của Majestic, Phi Khanh cho rằng:

“Phi Khanh luôn mang đến sự thoải mái cho các cộng tác viên. Mình cũng là người trong nghề nên dễ thông cảm lẫn nhau. Giàn âm thanh, ánh sáng luôn được để ý và sẵn sàng thay thế khi cần thiết, Phi Khanh không tiếc tiền khi làm điều đó.

Nhiều người đến “book show” với Majestic vì giá cả nhẹ nhàng, và Phi Khanh đặc biệt ưu ái với những nghẹ sĩ đến “book show” cho chính mình. Còn với các hội đoàn từ thiện thì còn đặc biệt hơn nữa.”

Rất nhiều ca sĩ đã cộng tác với Majestic và “cô chủ nhỏ” Phi Khanh chẳng bao giờ làm phật lòng ai. Trong không khí chân tình đó, họ hát với cả tấm lòng dành cho khán giả và cả tấm lòng dành cho “cô chủ nhỏ” dễ thương.

Và với cái máu nghệ sĩ, cộng thêm một chút liều “có tính toán”, năm 2002, hai vợ chồng Thành Quốc và Phi Khanh “run” tiếp Blue Club. Phi khanh cho biết: “Majestic hoạt động có 2, 3 ngày một tuần, thời gian rảnh quá không biết làm gì và Phi Khanh chỉ muốn khổ thôi nên làm tiếp Blue Club.”

Không có người yêu nhạc nào có thể đến Blue Club đủ 7 ngày trong tuần, vì mỗi ngày mỗi loại nhạc khác nhau và chỉ phù hợp với một loại khách khác nhau. Phi Khanh đã tuyển lựa rất kỹ các dòng nhạc và thị hiếu từng nhóm yêu nhạc, cô đưa ra một “thực đơn” đặc biệt cho mỗi ngày và chỉ có một món duy nhất.

Nếu bạn đến ngày thứ Hai thì chớ vào nếu bạn không “black” từ đầu đến chân.

Ngày thứ Ba chỉ có trống và đàn bass, tai bạn không tố bạn sẽ bị dội ngược ngay từ cửa.

Ngày thứ Tư dành cho các bạn trẻ Việt Nam sinh trưởng bên Mỹ. Họ không nói được tiếng Việt nhiều, nhưng họ đến với những người đồng trang lứa, hát cho nhau nghe nhưng bản nhạc Mỹ họ yêu thích.

Nếu bạn cũng như tôi thì hãy đến ngày thứ Năm, ngày âm nhạc Việt Nam do anh Trần Quốc Bảo phụ trách. Bạn sẽ nghe được những dòng nhạc mà trải qua bao năm tháng, chúng vẫn đẹp một cách kỳ lạ.

Ngày thứ Sáu là dòng nhạc Hip-Hop Asian, khách đến đa số là dân châu Á như người Hoa, Ðại Hàn, Thái,... và đương nhiên có cả khách Việt Nam.

Ngày thứ Bảy cũng là dòng nhạc Hip-Hop như của Mỹ.

Và ngày Chủ Nhật là dòng nhạc lãng mạn, trữ tình của thập niên 1980.

Bạn đi ngày nào trong tuần?

Trở lại câu chuyện với Phi Khanh về những dự tính cho năm mới, cô tâm sự:

“Phi Khanh sẽ sửa sang lại Majestic cho đẹp hơn. Tăng cường âm thanh, ánh sáng cho hoàn hảo hơn và sẽ cố gắng mở những đêm nhạc thính phòng. Có nhiều ca sĩ hát nhạc thính phòng hay lắm nhưng họ chưa có một sân khấu riêng, một không khí riêng để có thể gởi đến khán giả những bản nhạc bất hủ. Phi Khanh muốn lắm nhưng chưa làm được.”

Một ước muốn thật đẹp của người ca sĩ làm business.

Tôi về mang theo ước mơ của cô vào mộng.

Một ngày bằng... 16 năm

Friday, October 28, 2005

Hai mươi sáu, tháng Chín, năm 2005

Một ngày như mọi ngày!

Nhưng đó là ngày được chờ đợi trong suốt 16 năm sống 'vô tổ quốc' của những thuyền nhân Việt Nam tại Philippines.

'Chúng ta đã không bỏ rơi đồng bào của chúng ta' - như lời Ông Nam Lộc (Giám Đốc phụ trách di dân của cơ quan Công Giáo quận Los Angeles) tại phi trường LAX. Và sau bao nhiêu năm vận động, tranh đấu, chúng ta đã đưa được đồng bào đến bến bờ tự do thực sự, mở cửa cho mọi giấc mơ hồi sinh.

Đứng tại phi trường LAX chiều hôm đó, trong một không khí chờ đón náo nức của những người thân, của những nhà bảo trợ cho gia đình thuyền nhân Philippines, tôi còn thấy rất đông đồng bào đến chung vui, tìm kiếm bạn bè. Có một cái gì đó như nén chặt không khí lại, mọi người hỏi han nhau, nói nói cười cười nhưng tôi luôn có cảm giác không khí ngày càng đông đặc hơn trong sự đợi chờ.

7 giờ 30 phút chiều.

Niềm vui vỡ òa khi Ông Nam Lộc cùng với nhóm thuyền nhân đầu tiên bước ra. Tiếng reo hò tưởng như bất tận. Niềm vui được nhân lên, nhân lên cùng với những giọt nước mắt hạnh phúc. Tất cả tìm đến nhau, ôm chặt lấy nhau để tận hưởng giây phút hồi sinh của tự do. Nước mắt và nụ cười hòa quyện trên những gương mặt đen sạm vì mưu sinh trên đất Philippines.

* Những chuyện dường như không tưởng

Anh Nguyễn Công Trang, vượt biên đến Phi năm 1988 để lại vợ là chị Võ Thị Thu Hằng và một bé gái mới 2 tuổi, Võ Lan Anh.

Năm 1989, chị Hằng bế con vượt biển tìm chồng. Gia đình sum họp trên đất Philippines và anh chị có thêm một bé gái.

Trước ngày trại tỵ nạn đóng cửa, anh Trang được định cư tại Hoa Kỳ, chị ở lại đảo cùng hai con nhỏ. Năm 1992, anh bảo lãnh và gia đình lại đoàn tụ.

Cùng nhau gầy dựng tương lai. Hai anh chị sống hạnh phúc trong sự trưởng thành của con cái, nhưng trong lòng chị vẫn mang một nỗi buồn vì gia đình người chị ruột, Võ Thị Kim Du, vẫn còn kẹt lại trên đất Phi. Không làm gì khác hơn ngoài sự thăm hỏi chị thường xuyên và giúp đỡ chị khi cần thiết, chị Hằng ước mơ một ngày...

Tháng 5 năm 2005, bé Võ Lan Anh ngày nào được mẹ ẵm bồng vượt biển, nay đã trở thành một thiếu nữ xinh đẹp giỏi giang, đã tốt nghiệp thủ khoa tại trường Birmingham High School, San Fernando Valley, California. Ước mơ của cô bé là được gặp mặt ông bà ngoại trong ngày ra trường, và cô biết đó cũng là ước mong của mẹ cô, cô muốn bày tỏ tấm lòng của cô với mẹ. Được nhà trường giới thiệu, ba mẹ chị Hằng, ông bà Võ Thiết và Đặng Thị Thủy, dễ dàng vượt qua cuộc phỏng vấn và qua Mỹ trùng phùng với con, cháu trong 3 tháng hè.

Niềm vui nối tiếp niềm vui. Tháng 7 năm 2005, chị Du báo tin là chị có tên trong danh sách phỏng vấn đi Mỹ. Ông bà Võ Thiết ở lại chờ tin con với lời cầu nguyện dâng lên Thiên Chúa.

Cả đại gia đình đoàn tụ trong ngày 26 tháng 9.

Chuyện không tưởng đã xảy ra.

* Có một tình bạn vững bền

Anh Hà Thân Ý (Anaheim) có những người bạn rất thân từ Việt Nam. Năm 1989, vượt biên đến Phi và ở tại đảo 7 năm, bạn bè gặp lại nhau trên đất khách quê người. Sau đó anh quay trở về Việt Nam trong chương trình 'Cưỡng Bức Hồi Hương' với vợ và hai con, người vợ mà anh đã se duyên trong thời gian ở đảo. Các bạn anh ở lại tiếp tục sống cơ cực bằng sự hy vọng mong manh. May mắn cho anh Hà, năm 1999, Chính Phủ Hoa Kỳ cứu xét cho những người vượt biên bị bắt buộc quay về Việt Nam được sang định cư tại Mỹ, anh nằm trong số đó.

Qua những người quen biết, anh liên lạc được với bạn bè còn lại bên Philippines và tình bạn được nối lại. Khi được hỏi tại sao anh bảo trợ cho những người bạn này, anh cho biết:

'Chúng tôi là bạn 'nối khố' từ nhỏ và chúng tôi không quên nhau. Sống ở Philippines 7 năm trời, tôi biết cuộc sống các bạn tôi rất khổ cực, tôi nghĩ người nào đã sống ở Philippines rồi thì luôn mong mỏi được đến một đất nước thứ ba để ổn định cuộc sống, gầy dựng tương lai. Tôi giúp bạn tôi là điều đương nhiên thôi.'

Bạn bè gặp nhau tay bắt mặt mừng. Anh Nguyễn Tân Sanh, bạn anh Hà, tâm sự:

'Gia đình chúng tôi đến Philippines năm 1989, khi ra đi thì vợ tôi đang mang thai cháu Nguyễn Thị Thanh Trúc. 16 năm ở Philippines là 16 năm nhọc nhằn không biết đến tương lai. Sau khi trại tỵ nạn đóng cửa, chúng tôi ra ngoài sinh sống, đa số người Việt bên đó sống bằng nghề buôn bán dạo. Không được bảo vệ bởi luật pháp, chúng tôi sống chui, làm chui để tồn tại nhưng cũng không quên cho con đến trường. Cuộc sống thật khó khăn nhưng chúng tôi đã vượt qua. Cám ơn Luật Sư Trịnh Hội, cám ơn tất cả mọi người, chúng tôi không bao giờ quên ơn quý vị. Tôi sẽ trở thành một người có ích cho xã hội.'

Cô Thanh Trúc, con anh chị Sanh, khóc ngon lành trước ống kính truyền hình. Cô cảm nhận được sự tự do mà ba mẹ cô đã đánh đổi bằng mạng sống, cảm nhận được những chuỗi ngày tủi hận của gia đình đã trải qua. Những giọt nước mắt hạnh phúc cứ chảy tự nhiên trên khuôn mặt xinh xắn như một lời cám ơn chân thành. Cô nói trong nghẹn ngào: 'Cháu rất vui mừng... không thể tin được... Cháu muốn đi học, học làm bác sĩ để giúp đỡ mọi người, để trả ơn ba mẹ...'

* Qua rồi cơn ác mộng

Anh Lê Bá Khuê vượt biên đến Philippines năm 1989. Trong trại tỵ nạn, anh đã tìm thấy nửa kia của mình là chị Phan Thị Kim Phụng. Đám cưới của hai anh chị được tổ chức đơn sơ tại trại năm 1992. Năm 1996, vì nhiều nguyên nhân anh chị không thể tiếp tục sống ở trại nên bỏ trốn lên thủ đô Manila sinh sống cùng hai thành viên mới, một trai, một gái.

Như hầu hết người Việt trên đất Philippines, anh chị cũng đi bán dạo. Lấy hàng trả góp từ những người Việt có gia đình Philippines, anh chị lại bán trả góp cho dân nghèo thành thị. Từ sáng sớm, mỗi người đi mỗi đường đến tối mới về nhà. Nhà mướn thì chật chội thiếu sinh khí.

Chị Phụng nhớ lại: 'Chúng tôi buôn bán lậu nên không được sự bảo vệ của luật pháp. Tôi đã 4 lần bị đám giang hồ giựt tiền, hàng mà không được ai giúp. Chúng giựt công khai giữa ban ngày, tôi giằng lại thì chúng đánh, chúng đá... mặc cho tôi khóc lóc van xin. Dân bản xứ chỉ đứng nhìn, không dám can thiệp vì sợ trả thù. Những lúc đó tôi chỉ biết khóc thôi. Anh nói báo cảnh sát ư? Dạ có, tôi có báo cảnh sát và đóng tiền cho họ để họ điều tra. Họ hẹn mai đến, rồi lại ngày mai, ngày mai... cuối cùng tôi mất thêm tiền. Chính họ cũng đi bắt chúng tôi, thấy họ từ xa là phải ôm hàng chạy trối chết, chạy không kịp thì mất hàng, lại phải vay mượn gầy lại vốn. Tôi luôn nằm mơ thấy mình bị giựt hàng, cơn ác mộng đó đã đeo đẳng tôi bao nhiêu năm nay. Tôi sợ lắm.'

Chị cười trong hai hàng nước mắt: 'Nó đã qua rồi, bây giờ tôi quá hạnh phúc.'


* “Chúng tôi sẽ sống ở bất cứ nơi nào.”

Một tuần sau ngày những thuyền nhân Philippines đầu tiên đặt chân đến Hoa Kỳ, tôi trở lại thăm anh Hà Thân Ý và hai gia đình người bạn mà anh đã bảo lãnh. Trong một apartment nhỏ bé chỉ dành cho một gia đình nay có thêm 4 thành viên mới. Tuy chật chội nhưng không khí thật ấm cúng và tràn đầy tiếng cười. Họ đã từng là bạn và tình bạn đó đã được thử thách qua gần ¼ thế kỷ.

Anh Nguyễn Tân Sanh cho biết:

“ Mấy ngày qua, nhờ anh Ý chở gia đình chúng tôi đi làm giấy tờ, giờ cũng tạm ổn. Hiện tại, chúng tôi cố gắng hoàn tất hồ sơ cho cháu Thanh Trúc để cháu nhập học. Còn chúng tôi cũng chưa có dự định gì rõ rệt cho tương lai. Đương nhiên chúng tôi sẽ tìm một nghề gì đó để học là làm việc, anh Ý sẽ giúp chúng tôi hoạch định kế hoạch cho tương lai.”

Qua rồi những ngày cơ cực với những gam màu xám của tương lai, nay gia đình anh chị Sanh đã tìm được một nơi chốn có thể dung thân cho đến cuối cuộc đời. Trong ánh mắt của họ, tôi nhìn thấy niềm hạnh phúc đang tràn ngập trong lòng họ, ánh mắt ấy ánh lên một quyết tâm gây dựng một cuộc sống mới, cuộc sống mà họ đã chờ đợi 16 năm ròng rã trong nước mắt và tủi nhục.

Với ánh mắt đầy nghị lực, anh Sanh khẳng định: “Chúng tôi đã tồn tại trên đất Phi thì chúng tôi sẽ sống được ở bất cứ nơi nào trên thế giới.”

Cây nhân ái đã ra hoa kết trái. Công lao này thuộc về tất cả những ai 'không bỏ rơi đồng bào.' Cám ơn Luật Sư Trịnh Hội, người đã ươm mầm hy vọng cho đồng bào trong những ngày đầu tiên, cám ơn ông Nam Lộc và các vị luật sư, dân biểu, các thiện nguyện viên... và rất nhiều người đã góp công sức ghi nên một trang sử thật đẹp cho cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại.

Thủy Tiên - Tiếng Hát Pha Lê

Friday, July 29, 2005

Thủy Tiên là một trong những ca sĩ trẻ được ưa thích ngay từ buổi đầu bước lên sân khấu. Người ca sĩ có giọng hát mượt mà, tươi trẻ nhưng vẫn mang đôi chút từng trải trong từng câu chữ. Hình như âm nhạc là dòng chảy mãnh liệt sẵn có trong huyết quản của cô gái mang dòng máu Hoàng tộc. Cô hát thật tự nhiên, như nói cười với cuộc sống qua phương tiện âm nhạc.

Phong cách Thủy Tiên không mang nét dịu dàng, đằm thắm của Huế. Nơi cô, người ta cảm nhận một sự nổi loạn đáng yêu của tuổi trẻ. Một sự nổi loạn thật dễ thương, để tự khẳng định mình trong lòng người yêu nhạc.

Năm 1990, trong một dịp hát giúp vui trong sinh nhật một người bạn, Thủy Tiên đã làm ngạc nhiên nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện bởi chất giọng “trong như pha lê” của mình. Ông đã đưa Thủy Tiên đến với giới trẻ bằng những ca khúc viết riêng cho cô: Cô Bé Dỗi Hờn, Hứa Ði Anh, Vì Sao, Mong Ðợi Ngậm Ngùi,... Cùng ban nhạc “Hy Vọng” gồm Lý Ðược, Sỹ Ðan, Tùng Châu, Thủy Tiên có mặt tại hầu hết các vũ trường, sân khấu ca nhạc của Sài Gòn lúc bấy giờ. Và bao giờ cũng vậy, sự xuất hiện của cô luôn mang lại niềm phấn khích cho giới trẻ bằng nét sinh động và duyên dáng của cô.

Ðịnh cư tại Hoa Kỳ từ năm 2001, cô sớm góp mặt trên sân khấu Thúy Nga Paris và nhanh chóng trở thành một trong những ca sĩ được yêu thích ở hải ngoại.

Mỗi lần xem chương trình ca nhạc của Trung Tâm Thúy Nga, người xem chờ đợi sự xuất hiện của cô. Sự có mặt của Thủy Tiên luôn rực rỡ dù cô hát một mình hay có dancers phụ diễn. Chất trẻ trong giọng hát, nét phóng khoáng trong phong cách Thủy Tiên luôn chinh phục sân khấu.

Tôi thích cái “nhún mũi” của cô. Cái “nhún mũi” làm cô “xấu” đi trong tích tắc nhưng lại là hình ảnh tôi nhớ nhất. Ðó chính là cái rất riêng của cô, cái riêng đó phần nào tạo nên một “phong cách Thủy Tiên.” Một chút “Tomboy,” một chút “gợi cảm...”

Tiếng hát của Thủy Tiên trong 15 năm qua có những thay đổi trên nền “pha lê.” Nồng nàn hơn, gợi cảm hơn. Có lẽ, sự chiêm nghiệm về cuộc sống, về tình yêu đã cho cô một cái nhìn sâu lắng hơn trong từng bài hát. Cô thể hiện bài hát bằng tất cả sự cảm nhận nỗi buồn trong tình yêu, hay niềm vui trong cuộc sống. Cô thực sự sống trong bài hát mình thể hiện. Ðôi lúc, đôi lúc thôi, giọng cô khàn khàn làm tim tôi nhói đau. Ðôi lúc, đôi lúc thôi.

Về phong cách trình diễn, Thủy Tiên tâm sự: “Mỗi người ca sĩ đều có một kỹ thuật riêng thể hiện bài hát. Với Thủy Tiên thì Thủy Tiên chỉ chọn những bài hát mình thích. Nghiên cứu ca từ, cảm nhận vẻ đẹp của ca từ, giai điệu và trình diễn bằng chính sự cảm nhận đó. Phong cách trình diễn trên sân khấu chính là phong cách thật của Thủy Tiên, không gượng ép.”

Nói đến phong cách trình diễn của Thủy Tiên, không thể không nói đến Calvin Hiệp và anh Linh. Hai nhà designers đã tạo nên những bộ trang phục riêng cho từng bài hát Thủy Tiên thể hiện. Chúng làm Thủy Tiên toát lên một vẻ gợi cảm đặc biệt, rất chung của phái nữ nhưng cũng rất riêng của Thủy Tiên.

Thủy Tiên là một người không dễ gần gũi, ít nhất theo lời cô nói. Ngoài đời, cô có vẻ lạnh lùng, ít nói. Không nhu mì, ngọt ngào như những cô gái Huế mà ta thường gặp, cô thừa hưởng tính bộc trực, thẳng tính của người miền Nam, mẹ cô. Người mẹ mà theo Thủy Tiên “là người mà Thủy Tiên luôn “lookup.” Là người dạy dỗ và “support” Thủy Tiên trong mỗi việc, nên “my number one is my MOM.” Mẹ là người đã cho Thủy Tiên mọi điều để có thể trở thành một Thủy Tiên hôm nay.”

Sắp tới, Thủy Tiên sẽ ra mắt CD “Yêu Ai.” Ðây là CD thứ ba của Thủy Tiên trong vòng bốn năm qua. “Mỗi CD là một đứa con tinh thần mà Thủy Tiên bỏ rất nhiều công sức để hoàn thành. Thủy Tiên hy vọng khán giả sẽ yêu thích và ủng hộ CD “Yêu Ai” này như hai CD trước. Nhân đây, Thủy Tiên trân trọng gởi lời cám ơn tới Trung Tâm Thúy Nga đã dành nhiều ưu ái cho Thủy Tiên, cám ơn những người nhạc sĩ, nhạc công, người phụ trách phần âm thanh, mix nhạc... đã giúp Thủy Tiên rất nhiều. Cám ơn quý khán giả đã luôn ủng hộ Thủy Tiên trong suốt 15 năm qua. Thủy Tiên thật cảm động khi mỗi lần được khán giả yêu cầu hát những bài hát xưa, những bài hát mà Thủy Tiên hát đã mười mấy năm rồi mà khán giả vẫn nhớ. Cuối cùng, xin trân trọng cám ơn Nhật Báo Người Việt đã cho Thủy Tiên cơ hội tâm sự cùng độc giả.”

“Yêu Ai” - Chủ đề của CD cũng là tên một ca khúc của Nhạc sĩ Nguyễn Ngọc Thiện. Ngoài ra còn có các bài như Chiều Tím Vội Phai của Lan Anh, Bốn Mùa Trông Anh của Huy Tuấn, đặc biệt có bài Ngày Ta Có Nhau, Thủy Tiên song ca với Trần Thái Hòa.

Thủy Tiên đã để lại một dấu ấn đặc biệt cho nhạc trẻ Saigon trong thập niên 90. Cô đã tạo được cho mình một phong cách khác hẳn lớp người đi trước. Sự thành hình phong cách của cô như những đợt sóng ngầm, âm thầm níu giữ chân ta để rồi một ngày nào đó ta chợt nhận ra rằng ta đang hát những bài cô đã hát, ta đang nhảy những bước cô đã nhảy để thấy rằng đời vẫn “còn một chút gì để nhớ... để quên.”

Nữ tài tử Kiều Chinh và tình mẫu tử

Friday, April 22, 2005
Có lẽ nếu không có Kiều Chinh, lịch sử điện ảnh Việt Nam sẽ thiếu đi những mảng màu rực rỡ. Những đóng góp của bà cho điện ảnh Việt Nam từ khi bước chân vào nghề năm 1957 cho đến khi phải bỏ lại tất cả sự nghiệp, những người thân yêu... để đào thoát vào những ngày cuối tháng Tư năm 1975, thực sự làm người ta phải thán phục.

Hai lần đào thoát là hai lần bà thể hiện bản lĩnh của người phụ nữ Việt Nam. Những sợ hãi trước tương lai tối tăm trước mắt, những đau xót khi phải chia lìa với người thân không làm bà mềm lòng, nản chí. Sự cứng cỏi ẩn trong nét đẹp dịu hiền làm bà tỏa sáng không chỉ trong nghệ thuật mà cả trong đời thường.

Bà là con út trong gia đình họ Nguyễn tại Hà Nội (ông bà Nguyễn Cửu – Nguyễn Thị An), một gia đình theo Tây học và rất mộ đạo Phật. Năm 1945, thế chiến thứ hai bước vào gia đoạn cuối, mẹ bà bị chết cùng người em trai khi phi cơ đồng minh oanh tạc quân Nhật tại ngoại thành Hà Nội, năm đó cô bé Kiều Chinh chỉ mới 6 tuổi. Mồ côi mẹ, bà được bố dành cho nhiều thương yêu để bù đắp phần nào sự thiếu vắng bàn tay chăm sóc của mẹ. Kiều Chinh lớn lên trong sự yêu thương ấy. Những bước đi chập chững vào đời được dìu dắt bởi một người cha, trong vai trò người mẹ, Kiều Chinh được chia sẻ những suy tư đầu đời của một người bố, trong vai trò người anh. Hình ảnh và tình cảm của người cha đã ghi một dấu ấn sâu sắc trong suốt quãng đời lưu lạc, mà rồi mãi 41 năm sau (1995), Kiều Chinh mới được trở về quê để thắp một nén nhang lên mộ bố. Ông Nguyễn Cửu đã chết sau nhiều năm bị tù đày trên chính quê hương mình mà không hề được xét xử vì ông là một viên chức tài chánh cao cấp trong chính phủ quốc gia trước năm 1954.

Trong một buổi nói chuyện thân mật với những người bạn tại tư gia, Bà nhớ lại:

“Năm 1954, từng đoàn người di tản vào Nam, và bố tôi cũng chuẩn bị để đưa anh trai tôi và tôi đi. Khi ra tới máy bay thì bố tôi đẩy tôi lên trước và nói:

- Con vào trước, bố đi kiếm anh con rồi vào sau, gia đình mình sẽ gặp nhau trong trại tị nạn.

Tôi không ngờ đó là câu nói cuối cùng của bố dành cho tôi, vì tôi vẫn hy vọng bố tôi và anh tôi sẽ vào và gia đình tôi sẽ lại sum họp. Sau khi cánh cửa vào miền Nam bị đóng sập lại thì cả thế giới như sụp đổ dưới chân tôi. Một cô bé 15 tuổi, một thân một mình giữa miền Nam hoàn toàn xa lạ, không có cách nào để có thể liên lạc ra miền bắc, không một người thân thích ở miền Nam, tôi không biết tôi sẽ sống ra sao nếu không nhờ một gia đình người bạn bố tôi đi cùng chuyến bay vào nam với tôi, đã cưu mang, đùm bọc, và một năm sau tôi trở thành con dâu của họ.”

Trong khúc quanh lịch sử đó, miền Nam đã vô tình nuôi dưỡng một tài năng mà chỉ cần một vài năm sau đó đã sáng chói trên vùng trời nghệ thuật điện ảnh.

Những kỷ niệm ngọt ngào của một thời mới bước chân vào nghề làm giọng của Bà trở nên sôi nổi và say sưa hơn:

“Bố mẹ chồng tôi rất thương tôi, đối xử với tôi như con ruột, không có chút phân biệt nàng dâu mẹ chồng, do đó tôi rất kính nể các cụ. Khi làm một việc gì tôi đều thỉnh ý các cụ, nếu các cụ đồng ý thì tôi mới làm. Và cuốn phim đầu tiên của tôi đã được các cụ vui vẻ cho phép”.

Năm 1957, Bà bắt đầu sự nghiệp điện ảnh với phim “Hồi Chuông Thiên Mụ” trong vai tiểu thư Như Ngọc. Và từ đó cho đến năm 1975, Bà đã đóng vai nữ chính trong 22 phim thực hiện tại Việt Nam và các nước Ðông Nam Á như Philippines, Singapore, Thái Lan, Ðài Loan, Ấn Ðộ... Một số phim nổi tiếng trong thời gian này:

A Yank in Vietnam (1963), còn gọi là Năm Dần, đồng diễn với đạo diễn kiêm tài tử Marshall Thompson.

Operation C.I.A. (1965), đồng diễn với Burt Reynolds.

Destination Vietnam (1968), phim do hãng Paramount sản xuất và được thực hiện tại Việt Nam, đồng diễn với nam tài tử Philippines Leopoldo “King” Salcedo.

Devil Within (1971), xuất phẩm của hãng 20th Century Fox dược thực hiện tại Ấn Ðộ, đồng diễn với nam tài tử Mỹ Rod Perry và người được coi là ông hoàng của điện ảnh Ấn Ðộ thời ấy: Dev Avnal.

Người Tình Không Chân Dung (1973), do Bà sản xuất và diễn vai nữ chính, đạo diễn Hoàng Vĩnh Lộc. Phim đã đoạt hai giải “Phim Chiến Tranh Hay Nhất” và “Nữ Diễn Viên Chính Xuất Sắc Nhất” tại đại hội điện ảnh Á Châu năm 1973.

Full House (1975) do J.P. Tan sản xuất và đạo diễn tại Singapore. Phim được ra mắt công chúng Singapore vào đúng tháng Tư năm 1975, trong khi vai nữ chính đang bôn ba trên đường đào thoát.

Ba mươi năm đã trôi qua nhưng những ký ức trong những ngày bôn ba tìm đường đào thoát để được đoàn tụ với các con vẫn còn nguyên vẹn, bà tâm sự với chúng tôi trong niềm đau xót chưa nguôi ngoai:

“Tháng tư năm 1975, tôi và các con tôi đang ở Canada. Tình hình trong nước lúc đó rất lộn xộn nhưng tôi vẫn quyết định phải trở về Việt Nam để thu xếp việc nhà đồng thời đưa bố chồng cùng chồng tôi sang bên này. Thế nhưng khi về đến nơi thì không cách gì chúng tôi có thể thu xếp để toàn bộ gia đình đi được. Sài Gòn ngày càng hỗn loạn và mọi người cũng tìm đủ mọi cách để ra đi. Các con tôi đang học bên Canada thì còn quá nhỏ, điện thoại về thúc giục tôi phải đi ngay.

Lòng tôi rối bời vì những tin đồn ngày càng nhiều, nào là Vua Bảo Ðại sẽ về, miền Trung sẽ trở thành “trái độn” cho hai chế độ của miền Nam và miền Bắc... Ðối với tình cảm của người con, tôi muốn ở lại vì nghĩ rằng biết đâu tôi sẽ được gặp lại bố và anh tôi sau bao năm xa cách, nhưng tình thương của người mẹ đối với các con thì tôi thực sự lo sợ vì nếu tôi không kịp đi thì các con tôi sẽ mất mẹ như 21 năm trước tôi đã mất bố tôi. Và rồi tình mẹ trong tôi đã thúc giục tôi phải làm mọi cách để gặp lại các con, tôi không muốn nỗi đau mất bố năm nào, nay lại chuyển cho các con tôi nỗi đau mất mẹ.

Nhờ một người bạn của gia đình làm trong Air Vietnam, tôi rời Việt Nam trong chuyến bay cuối cùng của Panama Air Line chở nhân viên và gia đình các Ðại Sứ Quán mà không mang được một thứ gì cả. Chuyến đi rời khỏi quê hương lần này cũng giống chuyến di tản của tôi năm 1954, tôi ra đi một mình với hai bàn tay trắng.

Khi máy bay đáp xuống Singapore thì tôi bị vào tù vì bị khép tội nhập cảnh trái phép do không có visa, mà passport của tôi, passport của một nước “vô chính phủ” đã không còn hiệu lực (lúc đó Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã từ chức, các Ðại Sứ Quán VNCH đều ngưng hoạt động để chờ lệnh).

Ở trong tù, tôi xin gọi điện thoại ra ngoài cho các bạn tôi để nhờ giúp đỡ nhưng không được phép. May thay, trong giờ được ra ngoài làm vệ sinh cá nhân tôi thấy người cai tù đang đọc một tạp chí mà hình của tôi nằm ngay trang bìa. Tôi liền chạy lại gần kêu lên: “It's me. It's me” và chỉ cho ông ta xem tấm hình của tôi. Mặc dù tấm hình chụp trên bìa tạp chí thật đẹp khác xa với tôi ngoài đời do mấy ngày này mắt thâm quầng vì lo lắng, mất ngủ, lại không được nghỉ ngơi ăn uống gì cả nhưng cuối cùng ông ta cũng nhận ra tôi và cho phép tôi được gọi điện thoại ra ngoài.

Các bạn tôi liền đóng tiền để tôi được thả đồng thời liên lạc với chính phủ nước sở tại. Họ chỉ cho phép tôi lưu cư tại Singapore trong vòng 48 tiếng vì tôi là người “vô tổ quốc”. Bằng một vé máy bay một chiều (one way) đi khắp thế giới, các bạn tôi đã giúp tôi rời khỏi Singapore và chúng tôi phó mặc cho định mệnh an bài số phận của tôi.

Tôi lên máy bay với một nỗi lo lắng tột cùng. Không biết gia đình chồng có đi được hay không? Không biết các con tôi hiện nay ra sao? Tôi cảm thấy lạc lõng vô cùng trên chuyến bay mà tôi là người duy nhất không có tổ quốc.

Trong suốt cuộc hành trình vô định, vì tôi không biết mình sẽ thuộc về nước nào, không một đồng xu dính túi, tôi thu gom đồ ăn người ta phát trong chuyến bay để dành ăn từ từ trong khi chờ chờ chuyến bay chuyển tiếp và uống nước lạnh tại các thùng nước đặt trong phi trướng.

Tôi ghé qua Bankok - Hongkong - Ðài Loan - Ðại Hàn - Nhật - London (Anh Quốc) - New York (Mỹ) và cuối cùng là Cannada.

Máy bay đáp xuống Canada lúc 12 giờ trưa ngày 30 tháng Tư năm 1975. Theo luật lệ quốc tế tôi nghiễm nhiên trở thành thường trú nhân của nước Canada. Các con tôi đón tôi tại phi trường, chúng tôi ôm nhau vào lòng và khóc nức nở. Trải qua chuyến bay định mệnh đó tôi nghĩ rằng không có gì có thể chia cắt được mẹ con chúng tôi, chúng tôi sẽ sống và yêu thương, đùm bọc nhau trong suốt quãng đời còn lại.”

Kiều Chinh chỉ là một trong hàng triệu người trải qua hai lần đào thoát tìm tự do. Qua câu chuyện của bà, chúng tôi không cố ý đề cao bà vì bà là một nghệ sĩ nổi tiếng. Chúng tôi kính trọng bà vì tình mẫu tử. Chỉ có tình mẫu tử mới khiến cho bà cương quyết ra đi tìm lại các con, tình mẫu tử đã khiến bà mạnh mẽ hơn, can đảm hơn khi phải đối đầu với mọi thử thách.

Chúng ta luôn có những Bà Mẹ Việt Nam như thế!

LỜI BỘC BẠCH CỦA MỘT ĐẢNG VIÊN

(psonkhanh: http://blog.360.yahoo.com/blog-6eM.45MhaKk.RdHtpRZzT7I-?cq=1&p=91#comments)

Lâu nay tôi không viết blog, không comment vì tôi sợ. Tôi nghe được những thằng bạn làm bên an ninh nói rằng đang thực hiện những chỉ thị của cấp trên rất quyết liệt để tìm ra dấu vết tông tích của những blogger “có vấn đề” để có cách xử lý thích đáng. Tôi thực sự sợ, có lẽ là tôi hèn nhát. Nhưng hôm nay tôi muốn viết, tôi buộc phải viết, tôi không giải thích được tâm trạng của mình lúc này, nhưng tôi cảm nhận rõ ràng một sự thôi thúc phải nói ra những gì mình suy nghĩ cho nhiều người đọc. Sự thôi thúc đó đến từ đâu tôi cũng không chắc, nhưng thật tình là tôi vẫn rất run sợ khi post bài này, tôi không phải là người dũng cảm, nhưng tôi thấy mình cần làm điều đó. Và tôi cũng chỉ có nơi này để viết, để nói ra được sự thật, blog là nơi duy nhất ở xã hội này người ta có thể nói thật, còn lại đều là một cuộc sống dối trá với chính mình và mọi người.


Tôi đã gần 50 tuổi, đang làm cho một viện nghiên cứu của Nhà nước, đã được 15 năm tuổi Đảng. Thật lòng là tôi đã nghĩ đến việc ra khỏi Đảng nhưng lại không dám thực hiện, tôi không đủ can đảm và mạnh mẽ để chấp nhận một cách kiếm sống mới hoàn toàn mà tôi không tự tin với nó. Mà bỏ Đảng thì chỉ còn cách bỏ cơ quan. Đã suy nghĩ rất nhiều cách mưu sinh khác nhưng vẫn không thấy cái nào là được. Các con tôi phải còn vài năm nữa mới có thể tự lo được. Lương hai vợ chồng cộng lại mới hơn chục triệu. Riêng tôi mỗi năm được thêm vài công trình nghiên cứu, chia ra cũng được khoảng 30-40 triệu đồng. Cái này chính là bổng lộc mà cấp trên ban phát vì nghiên cứu cho có, xong cho vào tủ, chủ yếu là viết theo ý muốn cấp trên rồi lập hội đồng khen nhau mấy câu, thế là xong. Giàu thì chủ yếu là các sếp lớn vì đề tài nào các sếp cũng có tên để chia tiền dù chẳng làm gì, có khi cũng chẳng nhớ nổi cái tên đề tài. Còn chưa kể những thứ quyền lợi mua sắm khác. Nói chung là nếu lên được trưởng phòng thì không phải lo tiền bạc, người ta cúng cho mình. Do vậy mà trong nội bộ người ta đấu đá giành giật nhau ghê lắm, vào Đảng cũng chỉ hy vọng lên được chức cao hơn. Nói thật là ngày xưa tôi vào Đảng cũng với động cơ như thế, nhưng không nghĩ rằng như thế chỉ mới là cái bắt buộc sơ đẳng, muốn ngoi lên được đòi hỏi phải nhiều thủ thuật lắm, và phải biết luồn cuối thật giỏi, chà đạp người khác mà không bị cắn rứt. Mà cả 2 cái này tôi đều dỡ, có lúc thấy phải làm nhưng làm cũng không đạt yêu cầu. Chuyên viên như tôi (dù là được xếp vào ngạch cao câp) bây giờ toàn phải nói vẹt, nói dối đến mức mất tư cách mà chẳng biết phải làm sao. Giờ mới thấy mình hèn nhưng đã muộn. Tự an ủi trấn an mình “mưu sinh mà, thôi đành vậy…”



Những người Đảng viên như tôi mình bây giờ chiếm đa số tuyệt đối trong Đảng, đến 95%. Hồi tháng 4 năm ngoái, tôi được đọc một bản nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Dư luận Xã hội, đây là tài liệu chính thức nghiên cứu theo yêu cầu của Bộ Chính Trị . Qua đó nói rõ rằng Đảng viên bây giờ đều chán nãn và bi quan, không còn tin vào đường lối chủ nghĩa Cộng Sản và học thuyết Mác Lê-Nin nữa, Đảng viên chỉ hy vọng vào sự đổi mới của Đảng. Nhưng bây giờ Đảng đã không còn đổi mới nữa, đang đi vào ngõ cụt. Hầu hết những Đảng viên như tôi bây giờ đều mong muốn một sự thay đổi, nhưng họ lại sợ thay đổi. Lý do quan trọng nhất là họ sợ bị trả thù như lịch sử đã từng xảy ra, như Đảng đã từng làm, họ nghe thấy sự hung hăng và cực đoan của các Việt Kiều qua các lần biểu tình chống đối người trong nước qua làm họ sợ. Rồi kiểu tuyên truyền của Đảng cũng tăng thêm điều đó, nếu bạn là Đảng viên, đi họp sinh hoạt Đảng thì sẽ nghe thấy những lời lẽ cảnh báo rất nặng nề, nào là các thế lực thù địch, nào là sẽ không đội trời chung với Đảng viên, âm mưu diễn biến hòa mình có thể mất nước v.v..


Nhưng cái làm xói mòn niềm tin ở Đảng nhất là tham nhũng và đặc quyền thì Đảng chẳng có một biện pháp hiệu quả nào ngăn chặn, nếu không muốn nói là Đảng phải duy trì nó để sống và để cai trị quan chức. Cơ quan tôi và nhiều nơi khác suốt ngày bàn tán về việc ông Lê Thanh Hải đã chi ra cả trăm tỷ đồng để hối lộ cho những vị ủy viên Bộ Chính Trị vào TpHCM để xem xét việc cách chức ông ta vì dính đến vụ PCI. Giờ ông ta tuyên bố với đám đàn em kinh tài là vững như bàn thạch vì không những thế, Thủ Tướng còn nhận của ông ta mấy triệu đô la nữa. Giờ là lúc ông ta ra sức vơ vét và tạo điều kiện cho các đàn em kinh tài vơ vét để bù lại những gì đã phải chi ra để chạy cho ông ấy. Những chuyện này giờ đây tồn tại như một sự tất yếu, chẳng có gì đáng ngạc nhiên.


Tôi đang đứng trước một trạng thái chông chênh, giữa những lựa chọn không dễ dàng: theo hiện trạng và thói xấu của xã hội để sống dễ dàng hoặc thay đổi để ko theo nó, hay tham gia vào những sự thay đổi của người khác làm xã hội tốt hơn. Tôi muốn 2 cái sau nhưng nhiều lần đã không vượt qua được chính mình. Hàng này tôi bị buộc phải học và thực hành theo gương và đạo đức HCM nhưng toàn là những gì đạo đức giả và nụy quân tử. Tôi là người luôn kính trọng Chủ Tịch HCM ngay cả khi đã đọc được những mặt trái của Bác. Tôi giữ thái độ đó vì tôi cho rằng Bác là một con người. Nhưng cách mà Đảng đang tuyên truyền về hình ảnh và đạo đức của Bác, bắt mọi người học tấm gương của Bác là cách mà người ta thường làm để ca ngợi những vị giáo của các tôn giáo. Thật đáng buồn là những điều như vậy chẳng những không làm tôn lên hình ảnh của Bác mà ngược lại, vì Bác không có những điều cần thiết của một giáo chủ tôn giáo. Thời buổi bây giờ không còn là những thế kỷ trước, thông tin quá nhiều, nhanh và dễ kiểm chứng thì không thể tạo ra những myth để dẫn dắt lòng tin của mọi người được. Tôn giáo được tạo ra từ các myth vốn là những hiểu biết sai lầm, có thể là dối trá nhưng lại mang ý nghĩa huyền thoại, thần thoại. Người ta đang làm cho hình ảnh Bác ngày càng trở nên méo mó và dối trá.


Gần đây tôi bắt đầu tin dần vào những gì vô hình như là định mệnh, số phận, vận nước, ... Không tìm thấy căn cứ khoa học nào, nhưng có lẽ niềm tin là tâm linh, không phải biện chứng khoa học. Do vậy, tôi cũng hy vọng như nhiều người dân đang hy vọng, hồn thiêng sông núi sẽ phù hộ cho vận mệnh của đất nước. Tôi muốn nói với những người muốn mưu sự lớn và thực sự vì đất nước nhân dân, hãy nhắm vào những gì thiết thực nhất vì cuộc sống của đa số người dân, đừng có giương ngọn cờ dân chủ nhân quyền làm mục đích chính, những điều đó với người dân còn xa vời lắm. Chính quyền hiện này dù làm ra vẻ chống đối và mạnh tay với những người đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền; giả bộ như là sợ những điều đó đe dọa sự cầm quyền của họ nhưng thực ra họ rất mong muốn những những người đấu tranh này lao vào những mục tiêu như vậy vì chúng chẳng thể nào thu hút quần chúng trong vài chục năm nữa. Họ ra vẻ cái này là gót chân Achile của Đảng nên phản ứng rất dữ dội, làm cho những người đấu tranh cứ tưởng thật là mình đã nhắm vào đúng tử huyệt của đối thủ và cứ thế hút đầu vào đá. Những gì thiết thực đối với quần chúng thì rất nhiều, nhiều vô kể, không thể nhắm đến hết tất cả một lúc được. Những con người sáng suốt sẽ nhận ra một vài điểm thật quan trọng từ những nhu cầu này, nhấn mạnh nó, giương nó lên làm ngọn cờ để tạo ra động lực cho đa số dân chúng thì mới có thể tạo ra lực lượng và thế lực thay đổi cái hiện nay được. Điều đáng mừng là một vài năm gần đây đã thấy xuất hiện vài người có tầm nhìn như vậy, không lao vào những khẩu hiệu dân chủ nhân quyền mà nhìn được những mấu chốt từ những gì rất thiết thực. Tôi có hân hạnh được trao đổi với những người như vậy trên blog và cảm nhận được sức mạnh tư duy của họ cho dù họ không nói gì về điều đó.



Nếu ai muốn copy bài này để phổ biến thì cứ tự nhiên làm đừng hỏi ý kiến tôi. Mà cũng mong các bạn hãy làm điều đó vì có thể một ngày nào đó, tôi không đủ sự can đảm, không vượt qua nổi sự hèn nhát nên sẽ xóa hẳn cái blog này. Tôi đã từng nghe cánh an ninh nói rằng sẽ dựa vào quan hệ của con rễ Thủ Tướng, là Việt Kiều trong giới tài phiệt, can thiệp với Yahoo để “lôi ra ánh sáng” kẻ nào là Change We Need để trị tội vì đã “vu khống” thanh danh của gia đình “phò mà”. Chuyện ấy cũng vài tháng nay rồi nhưng vẫn thấy Change tiếp tục viết bài, có thể là họ không làm được, và cũng có thể là chưa làm được. Nếu một ngày nào đó mọi người thấy blog này biến mắt hẳn thì xin hãy hiểu và thông cảm cho tôi. Tôi rất biết ơn ai đó copy bài này về blog của mình để những gì tôi viết còn lưu lại được.


Đa số Đảng viên và quan chức hiện nay đều hèn nhát như tôi vậy, những người dũng cảm có tư cách thì rất ít, những người này đều không lên cao được. Những kẻ chức vụ càng cao thì không những hèn mà còn nhát, thượng đội hạ đạp. Bản chất bọn chúng là những kẻ sợ sệt đủ thứ, chúng chỉ hung hăng khi nắm quyền lực trong tay và đối xử thô bạo với kẻ dưới hoặc những người không có chút quyền gì. Tôi đảm bảo rằng, khi có một sự thay đổi bọn người này là những kẻ trốn chạy đầu tiên hoặc quay ngoắc tức thì theo lực lượng mới. Bọn chúng đa số (tôi là thiểu số) đều là những kẻ giàu có, giờ thì lắm tiền nhiều của, sợ chết và sẵn sàng trở thành kẻ phản bội cho người khác sai bảo nếu được đảm bảo rằng không làm gì bọn chúng.


Sự sụp đổ và thay đổi là chắc chắc và không thể tránh khỏi, nhiều người bảo rằng sẽ rất nhanh, nhưng cũng có người bảo rằng sẽ chưa thể trong một hai năm nữa. Tôi thì nghĩ điều đó không tùy thuộc vào Đảng, vào Chính quyền nữa, cái này ngoài khả năng của họ rồi. Nó tuỳ thuộc vào lực lượng thay đổi có thể hành động lúc nào thì lúc đó sẽ có sự thay đổi. Còn thay đổi như thế nào thì lại tuỳ thuộc vào cái lực lượng này có muốn làm điều tốt cho người dân hay không. Thật là khủng khiếp nếu đất nước này tránh vỏ dư gặp vỏ dừa.


Hãy tha thứ cho tôi nêu ai đó vô tình bị xúc phạm từ những điều tôi viết, nhưng tôi vẫn tin những người đó rất ít, đếm trên đầu ngón tay. Tạm biệt mọi người, cũng có thể là vĩnh biệt…. Chúc mọi người vui khỏe và an toàn, chúc Việt Nam thay đổi tốt đẹp.


Tôi đã thực sự ân hận vì đã vào Đảng.


Saturday May 2, 2009 - 06:18am (ICT)

Saturday, May 2, 2009

Vì sao tôi “chơi” với Người Việt Trẻ

Friday, September 09, 2005

“Ðiếc không sợ súng”
Ðiếc mà sợ súng nỗi gì!
Tôi cũng vậy. Chuyện như thế này:
Năm 2003, đang làm lay-out cho một nhà in ở thành phố Garden Grove, tôi “quit job” vì không chịu nổi bộ mặt lúc nào cũng cau có như người vừa bị chôm chiếc Lexus. Tôi nghĩ mình cũng hơi “máu” khi tham gia vào đội quân thất nghiệp ở Orange County vì đội quân này lúc đó khá đông, nhưng tôi không lo vì... “điếc đâu có sợ súng!”
Rồi tôi cũng kiếm được việc làm bằng một mẫu rao vặt nhỏ của ông Năm Kỳ đăng trên mục Rao Vặt của Nhật Báo Người Việt. Cái ông Năm Kỳ thật dễ thương đã cho tôi một cái hẹn để thử tay nghề tại ngay tòa soạn tờ báo tôi đã đoc rao vặt... Nhật Báo Người Việt. Tôi cũng chẳng cần biết “đầu cua tai nheo” ra sao, Nhật Báo Người Việt tầm cỡ như thế nào, công việc đòi hỏi những gì nên cứ ung dung xách cặp táp đựng toàn bộ “hồ sơ mật” của tôi đến thử việc. “Hay không bằng hên”, nên tôi cũng qua mặt được khoảng chục tay “bảy nghề” khác để có một chỗ ngồi tại phòng Kỹ Thuật.
Hơn một năm quen việc, quen người. Công việc ổn định, cuối năm có thêm chút tiền lay-out Year Book và báo Xuân, tôi quyết định mua một máy hình digital để trở lại thú vui chụp hình mà tôi đã bỏ từ khi định cư tại Mỹ năm 2001.
Cũng vì thú vui này mà tôi “bị ép buộc” viết bài, và người “ép” tôi chính là anh Phạm Phú Thiện Giao, Giao cũng chính là ông Năm Kỳ năm xưa vì anh nhận nhiệm vụ đăng rao vặt tuyển người và anh xin đăng 5 kỳ... (!)
Số là như thế này:
Xuân Ất Dậu, không khí Tết tại Little Saigon thật náo nhiệt, nhiều nơi tổ chức chợ hoa và từng lớp người, lớp người kéo nhau đi sắm Tết để cùng gia đình hưởng một chút không khí Tết Việt Nam nơi đất khách. Tôi đề nghị anh Thiện Giao, lúc đó đã là trưởng trang Ðịa Phương, để tôi đi làm một phóng sự ảnh Tết của cộng đồng người Việt tại Little Saigon.
Hình được lên báo, mà lại là trang A1 số ra ngày mùng một Tết Ất Dậu. Một niềm vui không thể diễn đạt, một niềm khích lệ tinh thần mãnh liệt. Anh Thiện Giao khuyến khích tôi chụp thêm khi có dịp, và cơ hội mới đã đến do chính tôi tìm ra.
Mùng 5 Tết tôi theo Chùa Huệ Quang đi hành hương. Tôi chỉ tính làm một phóng sự ảnh “Ðầu Xuân Lễ Phật” mà phần caption hình do anh Thiện Giao phụ trách. Nhưng cuối cùng thì tôi viết toàn bộ bài “Ðầu Xuân Lễ Phật” với lời hứa của anh Giao là sẽ edit cẩn thận giùm tôi.
Viết thì viết. Ðiếc không sợ súng mà!
Rồi chẳng hiểu anh Khôi Nguyên, người phụ trách trang Người Việt Trẻ coi giò, coi cẳng, coi chữ, coi nghĩa của tôi ra sao mà đề nghị tôi lâu lâu viết bài cho trang Người Việt Trẻ, anh sẽ tìm đề tài cho tôi.
Viết thì ... viết! Tôi đâu có ngán nhưng dặn trước: “Quý “bác” nhớ sửa bài kỹ kỹ giùm em. Tay phải em lay-out kiếm cơm thì rành chứ tay trái chụp hình, viết lách thì em chẳng biết nó như thế nào.”
Thế là tôi có hai job. Cái job lay-out tại phòng Kỹ Thuật thì sau một thời gian bị “dũa”, bị “cạo” vì sai sót nay đỡ đỡ. Còn cái job “vừa viết vừa lách” thì nhiều khi cả tuần không nặn ra được một con chữ. Ai bảo tôi mê chụp hình, muốn hình đi thì phải có bài, muốn bài đi thì phải viết coi cho được. Thế là lâu lâu tôi lại thức trắng đêm để nặn từng chữ một.
Nhờ trời thương và nhờ anh em nâng đỡ, thỉnh thoảng cũng có bài trên trang Người Việt Trẻ. Cái vui xóa sạch mọi mệt nhọc.
Rồi một hôm chủ bút của báo Người Việt, Ðỗ Việt Anh, phán một câu làm tôi “nổi da gà”: “Này, tôi sẽ thu xếp cho cậu phỏng vấn Nữ Tài Tử Kiều Chinh nhé. Nghiên cứu tài liệu trước đi.”
Cầm một xấp bài viết về cuộc đời bà của những nhà báo tên tuổi, tôi thấy mình đang làm một việc liều lĩnh. Chắc lần này không xong rồi, từ chối thì không được, đành nhắm mắt đưa chân thôi.
Bốn tiếng hỏi chuyện bà chưa thấm vào đâu so với cuộc đời 50 năm bà làm nghệ thuật. Nghe đi nghe lại cuốn tape mà tôi không biết phải bắt đầu từ đâu. Hai tuần lễ trôi qua mà chẳng có chữ nào trong đầu cả. Thế mới biết, làm lay-out dễ hơn nhiều, múa tay múa chân một hồi là xong, viết chi cho khổ...
Buồn quá, tôi gọi điện thoại về Việt Nam cho mẹ tôi. Mẹ tôi đang bệnh, bệnh thường ngày của các cụ già, tôi kể chuyện thằng cháu nội của cụ cho cụ vui. Nói chuyện huyên thuyên hết một cái thẻ 10 đồng, rồi... tôi viết. Tôi viết “Nữ Tài Tử Kiều Chinh và tình mẫu tử.” Chắc chắn không “đụng hàng” rồi, vì nếu “đụng hàng thứ thiệt” thì tôi “chết không kịp ngáp.”
Bài đó phải đưa cho chủ bút Ðỗ Việt Anh duyệt, và ông gật đầu. Bài lên khuôn trên Người Việt Trẻ và tôi chờ phản ứng của độc giả và các “nhà phê bình vỉa hè” (nhà phê bình lớn thì đâu có thời giờ ngó xuống xem cái thằng nhóc này viết như thế nào). Anh Thiện Giao đi thăm dò phản ứng của “Bolsa Vỉa Hè” về phán cho tôi một câu: “Bài viết được lắm, nhiều người thích.” Không biết anh có an ủi tôi không nhưng tôi cũng thở dài nhẹ nhõm. Ðiếc không sợ súng mà!
Và cứ thế, cứ thế,... đến nay tôi đã có “credit” làm việc với Người Việt Trẻ hơn nửa năm trời với bao nhiêu nỗi niềm vui, buồn... cùng trang báo. Ðể rồi mỗi sáng Thứ Bảy lại say sưa mở tờ báo ra (nhất là khi có bài của mình) để thấy cuộc đời này thật đáng yêu.

Phiến bàn: Chơi đồng hồ cũng lắm công phu

Friday, August 26, 2005

Riêng tôi, tôi không cần một chiếc đồng hồ đeo tay nào cả. Với chiếc cell phone trong túi, tôi có đủ thứ cần thiết khi đi ra ngoài làm việc hay vui chơi. Nó có đủ chức năng cần thiết đối với tôi, từ việc xem giờ, xem ngày tháng, đến việc sắp xếp giờ hẹn, thậm chí tôi có thể vào internet để nhận hoặc gởi email hoặc download những bản nhạc hay xuống máy thưởng thức.
Nhưng không vì thế mà thị trường đồng hồ đeo tay không phát triển.
Ðồng hồ đeo tay ngày nay, không chỉ được dùng để xem giờ hẹn với người yêu, nhìn kim giây chậm rãi nhít từng chút từng chút mà bóng hồng vẫn biệt tăm, hoặc dùng để xem giờ tan sở rồi lại chép miệng than rằng sao mày chạy chậm thế! (Nhưng cũng có những lúc nó chạy nhanh khủng khiếp, mới đó mà đã 3 giờ sáng rồi và đành phải chia tay em bùi ngùi, về nhà ngủ một chút lấy sức sáng “đi cày”).
Sự lịch lãm, phong cách của bạn được thể hiện qua cái vuốt tóc đầy ẩn ý để nàng đủ nhìn thấy bạn đang sở hữu một món trang sức của một hãng đồng hồ nổi tiếng có mặt trên thị trường hàng trăm năm. Nàng sẽ nhìn bạn bằng một con mắt khác hẳn, không những bằng “hai con mắt mang cùng một viên đạn” mà còn hơn thế nữa...
Ðồng hồ đeo tay ngày nay không chỉ dùng xem giờ mà còn mang một phong cách sống của bạn. Cùng với trang phục, nó tạo cho bạn một phong thái khác hẳn, bạn sẽ tự tin hơn khi ra ngoài và biết đâu, có người mê chiếc đồng hồ bạn đeo để rồi đêm về nhớ nhung hình bóng của bạn... cùng chiếc đồng hồ quý giá! (Chỉ có dân trong nghề mới biết bạn đeo đồng hồ “dzỏm”!!!)
Thế thì tại sao chúng ta không sắm ngay cho mình một chiếc đồng hồ đeo tay?
Nếu đúng là “dân chơi” bạn phải sắm cho mình ít nhất ba cái.
Tại sao?
Khi đi làm thì mang đồng hồ “xoàng” thôi, loại work watch, để lỡ có khiêng vác hoặc cọ quẹt thì cũng không thấy xót xa.
Bạn có thích chơi thể thao không? Nếu không thích thì cũng nên sắm một chiếc đề phòng có một ngày đẹp trời nào đó, nàng rủ bạn đi bơi. Nếu bạn giống như tôi, không thích nước chút nào cả nhưng ta vẫn cứ phải đi vì “tình thương mến thương” thì nhớ đeo đồng hồ loại sport. Loại này được chế tạo đặc biệt để bạn dù chân chạm đáy hồ mà tay thì đập loạn xạ đồng hồ vẫn không hề hấn gì.
Thế nhé, bạn quyết định mua hai cái đồng hồ rồi. Chưa ăn nhằm gì, cái thứ ba mới quan trọng.
Ðể ngồi ăn tối ở một nhà hàng thanh lịch bên ánh đèn cầy ấm cúng, mặt đối mặt, tay trong tay với “người ta” thì phải đeo một cái đồng hồ khác, hai thứ trên không thích hợp với không gian trữ tình này. Từ chuyên môn gọi là “dress watch.” Nếu trên mặt đồng hồ mà có thêm vài viên diamond nữa thì hết ý. Dưới ánh đèn cầy, nó sẽ làm lu mờ mọi thứ... trừ cái đồng hồ của bạn.
Bạn đồng ý với tôi chưa? Chúng ta phải có ít nhất ba cái đồng hồ cho ra dáng “dân chơi.”
Bạn sẽ hỏi: “Thế thì sắm ở đâu?”
Bạn cho tôi biết túi bạn bao nhiêu gang, tôi sẽ cho bạn biết bạn nên mua đồng hồ ở đâu?
Túi một gang thì mua đâu chả được. Trong tiệm tạp hóa của các chú Ba, chợ trời... vì ta chỉ cần đeo thôi mà, giờ giấc nhanh chậm đâu quan trọng. Nếu nó có chết đứng như Từ Hải thì trái đất đâu có ngừng quay đâu mà sợ.
Túi hai gang thì cứ hiên ngang bước vào mall, từ vài chục đến vài trăm đô thôi là ta có quyền sở hữu một vật nâng tầm quan trọng của người đeo nó lên một bậc. Nhưng chớ dại dột mà đi lung tung, mắc tiền chưa chắc đã là đồ thiệt, mang trên tay đồ dzỏm mà cứ vác cái mặt lên trời thì dễ bị té lắm.
Túi ba gang thì nên đến các đại lý chính thức của hiệu đồng hồ bạn thích. Ở đây bạn sẽ được chủ nhân săn sóc tận tình, hướng dẫn chu đáo để bạn có thể cắn răng mà cà thẻ. Loại đồng hồ mang cho đáng mặt anh hào này xỉu xỉu cũng một hai “xấp” cho đến vài chục “xấp.” Tiền nào của nấy mà. Chớ tiếc tiền khi vào đây, vì nếu bạn được một người xa lạ nhưng đầy tình nhân ái mách bảo rằng hãy đến tiệm X. mua sẽ được giá rẻ hơn thì hãy coi chừng, bởi vở kịch “Hồn Trương Ba, Da Hàng Thịt” luôn được trình chiếu cho những kẻ ham rẻ.
Thế là bạn đã có ba cái đồng hồ để đeo cho đúng “môi trường hoạt động.” Nhưng đã là dân chơi thì nên tìm hiểu để “collect” một cái đồng hồ nữa, một cái đồng hồ mà khi mang sẽ hiếm khi “đụng hàng,” và nàng sẽ nhìn bạn bằng đôi mắt nai ngưỡng mộ một dân chơi thứ thiệt.
Ta tạm gọi loại đồng hồ này là “Collected Watch.” Loại này dân chơi đồng hồ săn tìm dữ lắm và nhờ những tay chơi giàu có này giá đồng hồ collect lên lẹ như giá xăng hiện nay. Ðồng hồ càng hiếm, càng có giá, và nếu nhờ trời mà bạn hay tôi mua được một cái đồng hồ loại này ở chợ trời hay garage sale với giá vài đô thôi thì đời ta lên hương rồi.
Chơi loại đồng hồ loại này thú lắm. Nó đòi hỏi bạn phải thực sự say mê đồng hồ, phải yêu thích nó. Tìm tòi, lục lọi trong đám đồng nát được một cái đồng hồ xưa là một sự thích thú vô cùng, không thể nào diễn tả. Cái thú nhất là ta đang đeo một cái đồng hồ mà chung quanh ta không ai có, họ có tiền nhưng chưa chắc họ đã mua được. Không ai đoán được giá trị chiếc đồng hồ bạn đeo vì nó có được bán ở tiệm đâu, ngoại trừ bạn. Và nếu bạn có đôi chút kiến thức về nó bạn tha hồ “nổ” cho mọi ngước lác mắt, nhưng nhớ ngó trước ngó sau xem có dân chơi thứ thiệt đứng gần không.
Thế đấy. Chơi đồng hồ cũng lắm công phu, và phải biết đeo cho đúng “môi trường hoạt động” thì mới tỏ ra là người sành điệu. Tùy túi tiền để sắm và nếu khéo léo bạn sẽ được người khác đánh giá bạn cao hơn những gì bạn đang có. Cũng thú vị lắm chứ!